Phân biệt tội hiếp dâm và cưỡng dâm


 

Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều có thể bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Trong đó hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục bị coi là tội phạm và bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tùy từng dấu hiệu cụ thể của tội phạm như hành vi, tuổi của người bị hại, tuổi của người thực hiện hành vi, tội phạm xâm hại tình dục được chia thành các tội danh khác nhau quy định trong Bộ luật Hình sự. Trong các tội danh được áp dụng cho loại hình tội phạm này, tội hiếp dâm và cưỡng dâm khiến nhiều người khó hiểu về hành vi để phân biệt.

Luat-Hieu-Gia

(ảnh minh họa)

 

1. Tội hiếp dâm

Theo điều 111 BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) có quy định: “Hiếp dâm là hành vi dung vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”.

a. Khách thể của tội hiếp dâm :

Tội phạm này xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của
người phụ nữ. Ngoài ra, tội phạm này còn gây khủng hoảng tinh thần của nạn nhân và trong một số trường hợp, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nạn nhân.

b. Mặt khách quan của tội hiếp dâm:

Đây là tội phạm có cấu thành hình thức, tội phạm có kết cấu bởi một trong các dạng
hành vi sau đây:

- Dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại
việc giao cấu như xô ngã, bóp cổ, giữ, vật lộn, bịt miệng, đánh...nạn nhân. Những hành vi đó nhằm làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu.

 Trong thực tế, nếu người phạm tội đã dùng vũ lực làm cho nạn nhân bất tỉnh và giao cấu, đồng thời sau đó để nạn nhân chết (dù không có hành vi dùng vũ lực tiếp theo), người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội giết người. Tương tự như vậy, nếu bằng mọi cách để giao cấu mà người phạm tội đã giết chết nạn nhân rồi sau đó giao cấu với nạn nhân thì người phạm tội sẽ bị truy cứu thêm tội giết người.

- Đe doạ dùng vũ lực: người phạm tội chưa thực hiện những hành vi dùng vũ lực,
chưa có bất kỳ một sự tác động vật chất nào lên người nạn nhân, mà thực hiện các hành vi đe doạ dùng vũ lực nhằm uy hiếp về mặt tinh thần. Sự uy hiếp này mang tính chất mạnh mẽ khiến cho người phụ nữ không dám chống cự, bị tê liệt ý chí và để người phạm tội giao cấu mình.

- Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: tình trạng này có thể có sẵn ở nạn nhân (nạn nhân bị bệnh động kinh, bệnh tâm thần) hoặc người thứ ba gây ra, hoặc do người phạm tội tạo ra (người phạm tội cho nạn nhân uống thuốc mê), hoặc do các nguyên nhân khách quan khác (nạn nhân bị say xỉn, bị bất tỉnh, bị ốm đau bệnh tật mà sức khoẻ yếu...).

- Thủ đoạn khác: là những thủ đoạn ngoài những trường hợp đã phân tích trên đây,
như: cho nạn nhân uống thuốc kích thích, lợi dụng sự kém hiểu biết của nạn nhân để dụ dỗ nạn nhân giao cấu. Đây là một quy định mở nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống có hiệu quả hành vi phạm tội hiếp dâm. Dấu hiệu giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.
Để xác định việc giao cấu có trái ý muốn của nạn nhân hay không, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố: mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh thực hiện hành vi giao cấu, nhân thân của hai bên, ý kiến của những người xung quanh, hậu quả sau giao cấu để lại... v.v…
 

     Tội phạm được hoàn thành khi người thực hiện hành vi phạm tội thực hiện một trong số các hành vi khách quan nói trên. Nếu mới thực hiện được hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác nhằm giao cấu với nạn nhân nhưng chưa thực hiện được hành vi giao cấu thì được coi là phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, chỉ cần người phạm tội đã thực hiện hành vi đưa dương vật của mình vào âm hộ của nạn nhân, không cần việc giao cấu hoàn thành về mặt sinh lý thì tội phạm được coi như đã hoàn thành. Vì tội phạm hoàn thành mà không cần hậu quả nên nó được xếp vào nhóm các tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức.

c. Mặt chủ quan của tội hiếp dâm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, người phạm tội biết hành vi giao cấu của mình là
trái ý muốn của người phụ nữ hoặc không cần biết là nạn nhân có đồng ý hay không nhưng vẫn mong muốn thực hiện được hành vi giao cấu bằng một trong những thủ đoạn nói trên. Đối với tội hiếp dâm, việc dùng vũ lực phải bao hàm mục đích giao cấu trái ý
muốn với họ. Thực tế, có một số trường hợp, vì một lý do nào đó mà người phạm tội giết chết nạn nhân. Sau đó, thấy thân thể nạn nhân vẫn còn hấp dẫn nên đã tiến hành giao cấu với nạn nhân đã chết và người phạm tội biết điều đó thì không phải là tội hiếp dâm. Trong trường hợp đó, có thể truy cứu người phạm tội về tội xâm phạm thi thể

d. Chủ thể của tội hiếp dâm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Người thực hiện hành vi phạm tội này
là nam giới. Nữ giới chỉ có thể tham gia trong trường hợp đồng phạm tội hiếp dâm với vai trò là người xúi giục, giúp sức hay tổ chức. Tuy nhiên, nam từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2,3,4 Điều này.

 

2. Tội cưỡng dâm

Điều 113 bộ Luật Hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) có quy định: “Cưỡng dâm là hành vi của một người bằng mọi thủ đoạn khác nhau ép buộc người
phụ nữ lệ thuộc mình hoặc người phụ nữ đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu với mình”.

a. Khách thể của tội cưỡng dâm:

Tội phạm này xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người
khác.

b. Mặt khách quan của tội cưỡng dâm

Người phạm tội có hành vi ép buộc hoặc bằng những thủ đoạn khác nhau buộc người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng chịu giao cấu với mình.

Quan hệ lệ thuộc ở đây có thể là quan hệ lệ thuộc về mặt công tác (như quan hệ lệ thuộc giữa thủ trưởng và nhân viên); về mặt kinh tế (như quan hệ giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng); về mặt tín ngưỡng (cha xứ và con chiên) hay gia đình (cha mẹ và con)...v.v... Người đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục được, mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác (như trường hợp người thân trong gia đình bị mắc bệnh hiểm nghèo khi hoàn cảnh lại đang túng thiếu nghiêm trọng...).
Người phạm tội lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh khó khăn đặc biệt nói trên
của người bị hại để khống chế tư tưởng họ, buộc họ phải miễn cưỡng chịu sự giao cấu. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để khống chế người bị hại có thể là đe doạ hoặc hứa hẹn.

+ Người phạm tội có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng ưu thế của mình doạ sẽ gây thiệt hại cho người bị lệ thuộc nếu như không chịu sự giao cấu. Ví dụ, doạ chuyển công tác, doạ không nuôi dưỡng nữa, doạ sẽ nói bí mật... Cần lưu ý, hành vi đe doạ ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe doạ tê liệt ý chí, không dám kháng cự như ở tội hiếp dâm. Người bị đe doạ chỉ bị khống chế tư tưởng; họ vẫn có khả năng phản kháng nhưng đã (miễn cưỡng) chịu sự giao cấu.

+ Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình hoặc lợi dụng người khác đang trong tình trạng quẫn bách, hứa hẹn sẽ mang lại một quyền lợi hay một giải pháp nào đó cho người đó thoát khỏi tình trạng đó, nếu họ chịu sự giao cấu.  Sự hứa hẹn phải mang tính chất là một sự khống chế tư tưởng người khác, buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận việc giao cấu.

Những trường hợp ép buộc khác không thuộc phạm vi của tội này. Việc xác định nạn nhân có “miễn cưỡng” khi giao cấu hay không nhiều lúc rất phức tạp. Để xác định chính xác, đòi hỏi chúng ta phải làm rõ mối quan hệ giữa người khống chế và nạn nhân, điều kiện cụ thể xảy ra hành vi giao cấu... Tội phạm được xem là hoàn thành khi việc giao cấu đã diễn ra (không cần việc giao cấu hoàn thành về mặt sinh lý). Tuy nhiên, nếu người phạm tội đã có hành vi cưỡng ép giao cấu nhưng chưa giao cấu được thì tội phạm xem như chưa đạt.

c. Mặt chủ quan của tội cưỡng dâm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết người bị hại lệ thuộc mình
hoặc biết họ là người đang trong tình trạng quẫn bách; đồng thời người phạm tội cũng biết hành vi đe doạ hay hứa hẹn của mình là hành vi lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc là hành vi lợi dụng tình trạng quẫn bách của người khác để buộc họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình. Nếu việc giao cấu được tiến hành mà có người tưởng nhầm người kia muốn cưỡng ép mình, đã chủ động tìm đến để giao cấu thì không thỏa mãn dấu hiệu chủ quan của tội phạm này. Chẳng hạn, A thiếu nợ B. Do B đang thiếu vốn kinh doanh nên đã tìm A nói về việc này với mục đích để A tìm cách trả vốn cho mình. Tuy nhiên, A tưởng B muốn ép mình giao cấu (vì B đã từng nói yêu A) nên đã miễn cưỡng tìm B đề nghị giao cấu. Hành vi của B không cấu thành tội phạm.

d. Chủ thể của tội cưỡng dâm:

Cả nam và nữ đều có thể là chủ thể là chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên,
thực tiễn xét xử cho thấy, người phạm tội là nữ rất hiếm xảy ra. Người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi chỉ có thể chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3,4 Điều này.

Ta có thể thấy sự khác biệt giữa hai tội này thứ nhất là ở đối tượng (nạn nhân). Đối với tội hiếp dâm thì nạn nhân là bất cứ ai, còn đối với tội cưỡng dâm thì nạn nhân phải là người lệ thuộc với người phạm tội hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Thứ 2, trong tội hiếp dâm, người phạm tội có thể lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu. Tình trạng này không thể tự vệ được của nạn nhân có thể là họ đã bị ngất xỉu, bị bỏ thuốc mê, bị bắt trói chân tay…Còn tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ án cưỡng dâm là người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn khả năng tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách không còn con đường nào khác mà buộc phải giao cấu.

Thứ 3, cưỡng dâm thiên về trường hợp nạn nhân bị ép buộc về ý chí hơn là về sức mạnh vũ lực.

 

Trân trọng!

 

 

 



Lưu ý: Những thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu luôn cập nhật và thay đổi nên có thể hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng khi đọc bài viết mà không để ý hiệu lực của điều luật thì có thể dẫn tới sai sót nếu áp dụng ngay vào thực tiễn.

Để chắc chắn và cẩn trọng nhất, khách hàng có thể Liên hệ để được tư vấn chính xác nhất về nội dung này.

Luat Hieu Gia

VPGD HIEU GIA LAW

Văn phòng tại Hà Nội: Số 2/115, Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội

Văn phòng tại Quảng Ninh: Số 46 Nguyễn Văn Cừ, Hồng Hà, TP Hạ Long, Quảng Ninh

Hotline: 0979.645.567 -  093.324.3003

Email: luathieugia@gmail.com     

Website: Luathieugia.com

LUẬT HIẾU GIA

 

 - Tư vấn mọi vấn đề liên quan để khách hàng có  lựa chọn tối ưu nhất cho vụ, việc trên;

 - Soạn hồ sơ cho khách hàng;

 - Đại diện đến cơ quan nhà nước làm thủ tục nộp      hồ sơ, theo dõi tình trạng hồ sơ, nhận kết quả;

 - Bàn giao giấy tờ (kết quả) cho khách hàng;

 - Chuyển hồ sơ lưu cho khách hàng

 

Luat Hieu Gia



Chia sẻ bài viết


facebook.png twitter.png google-plus.png

Tìm kiếm

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24h/7):

Gọi: 0979.645.567

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN LUẬT ONLINE (24h/7)

Gọi: 093.324.3003

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT












Dịch vụ nổi bật