Không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu


 

Theo Pháp luật hình sự Việt Nam (PLHS), quyền truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) và quyền thi hành bản án hình sự (BAHS) của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án hình sự) đối với người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm không phải là vô thời hạn, mà chỉ trong một thời hạn nhất định được ghi nhận trong PLHS. Nhưng khi một thời hạn nhất định do PLHS quy định đã qua rồi, thì bất kỳ người nào, mặc dù đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm vẫn không thể bị truy cứu TNHS (vì trong trường hợp này họ không bị coi là người phạm tội) hoặc không bị buộc phải chấp hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự (TTHS) tương ứng cụ thể, việc không truy cứu TNHS hoặc không thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật do hết thời hiệu chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền nhất định (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan thi hành án hình sự) khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện do PLHS quy định.

Căn cứ pháp lý: Luật hình sự 1999sửa đổi bổ sung 2009

 

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

 

Luat-Hieu-Gia

 

 

      Quy định tại điều 23 BLHS Việt Nam hiện hành, thời hiệu truy cứu TNHS là thời hạn do bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS về hành vi phạm tội của mình nữa. Xuất phát từ nguyên tắc xử lý: “mọi hành vi phạm tội đều phải phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.” (Điều 3 BLHS)

          Tuy nhiên, trong thực tế cũng có một số trường hợp do thiếu sót của cơ quan tiến hành tố tụng, có một số hành vi phạm tội không bị phát hiện hoặc bị bỏ quên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu trong một thời gian dài theo quy định của pháp luật, người phạm tội đã làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh pháp luật và không có lệnh truy nã thì CQ tiến hành tố tụng không có quyền truy cứu TNHS về hành vi phạm tội của họ nữa.

 

2.  Điều kiện để người phạm tội không bị truy cứu TNHS do hết thời hiệu.

Thời hiệu truy cứu TNHS do BLHS quy định, phụ thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã thực hiện. Theo khoản 2 điều 23 BLHS 1999 (Sửa đổi, bổ sung 2009), không truy cứu TNHS nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện qua những thời hạn sau:

- 5 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng.

+ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt  đối với tội ấy là đến ba năm tù (khoản 3 Điều 8 BLHS 1999).

+ Ví dụ: Tội giết con mới đẻ (Điều 94); tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 95; tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại nước ngoài hoặc ở Việt Nam trái phép (Điều 274)...

-  10 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng.

+ Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt  đối với tội ấy là đến bảy năm tù (khoản 3 Điều 8 BLHS). + Ví dụ: Tội lây truyền HIV cho người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 117; tội cưỡng dâm thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 113...

- 15 năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng.

+ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù (khoản 3 Điều 8 BLHS).

+ Ví dụ: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 156; tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 154...

- 20 năm đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

+ Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây y nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (khoản 3 Điều 8 BLHS).

+ Ví dụ: Tội phản bội tổ quốc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 79; tội giết người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 194; tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 221.v.v...

 

3. Cách tính Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Các thời hạn trên đều được tính từ thời điểm mà người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Việc xác đinh thời điểm phạm tội của một người thực hiện tội phạm thông thường khá đơn giản.

Tuy nhiên trong trường hợp hành vi được thực hiện ở dạng đặc biệt (như tội kéo dài, tội liên tục...) thì việc xác định thời điểm phạm tội có phần phức tạp hơn:

- Đối với các tội liên tục, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày hành vi cuối cùng trong một loạt hành vi tội phạm được thực hiện.

- Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội (rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) và hành vi phạm tội chưa đạt, thì thời điểm truy cứu TNHS được tính từ ngày hoạt động phạm tội bị chấm dứt về mặt pháp lý do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội và khiến cho người đó không thực hiện được tội phạm đến cùng. Trong trường hợp phạm nhiều tội, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày thực hiện tội đầu tiên trong số các tội bị phát hiện và người phạm tội bị đưa ra xét xử.

- Trong trường hợp phạm tội nhiều lần, thì thời điểm truy cứu TNHS bắt đầu được tính từ ngày tội nào được thực hiện trước tiên trong số các tội bị phát hiện và người phạm tội bị đưa ra xét xử.

- Một vấn đề đặt ra nữa đối với việc xác định thời điểm phạm tội trong một vụ đồng phạm, thì thời điểm đối với trường hợp này được xác định cụ thể theo vai trò của những người đồng phạm.

 

4. Các trường hợp tính lại thời hiệu

Các trường hợp tính lại thời hiệu theo khoản 3 điều 23 BLHS  (sửa đổi bổ sung năm 2009):

- Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

- Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; t­­­­hời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ. Cần phải lưu ý, chỉ khi nào sau khi phạm tội, người phạm tội đã trốn tránh và có quyết định truy nã đối với họ thì thời hiệu mới không được tính. Nếu họ có trốn tránh nhưng cơ quan CA không truy nã thì thời hiệu vẫn được tính đối với họ.

 

5. Những trường hợp không áp dụng thời hiệu.

Những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS ( điều 24 BLHS).

Do tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm an ninh quốc gia chương XI) và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (chương XXIV), nên điều 24 BLHS quy định: đối với các tội phạm tại 2 chương đó không được áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS theo điều 23 của BLHS.

 

6. Ý nghĩa của việc quy định thời hiệu truy cứu TNHS

Việc quy định thời hiệu truy cứu TNHS giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng cần khẩn trương truy tìm, điều tra tội phạm và người phạm tội, đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 3 BLHS là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

 

Trân trọng!

 



Lưu ý: Những thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu luôn cập nhật và thay đổi nên có thể hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng khi đọc bài viết mà không để ý hiệu lực của điều luật thì có thể dẫn tới sai sót nếu áp dụng ngay vào thực tiễn.

Để chắc chắn và cẩn trọng nhất, khách hàng có thể Liên hệ để được tư vấn chính xác nhất về nội dung này.

Luat Hieu Gia

VPGD HIEU GIA LAW

Văn phòng tại Hà Nội: Số 2/115, Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội

Văn phòng tại Quảng Ninh: Số 46 Nguyễn Văn Cừ, Hồng Hà, TP Hạ Long, Quảng Ninh

Hotline: 0979.645.567 -  093.324.3003

Email: luathieugia@gmail.com     

Website: Luathieugia.com

LUẬT HIẾU GIA

 

 - Tư vấn mọi vấn đề liên quan để khách hàng có  lựa chọn tối ưu nhất cho vụ, việc trên;

 - Soạn hồ sơ cho khách hàng;

 - Đại diện đến cơ quan nhà nước làm thủ tục nộp      hồ sơ, theo dõi tình trạng hồ sơ, nhận kết quả;

 - Bàn giao giấy tờ (kết quả) cho khách hàng;

 - Chuyển hồ sơ lưu cho khách hàng

 

Luat Hieu Gia



Chia sẻ bài viết


facebook.png twitter.png google-plus.png

Tìm kiếm

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24h/7):

Gọi: 0979.645.567

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN LUẬT ONLINE (24h/7)

Gọi: 093.324.3003

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT












Dịch vụ nổi bật