Không phải chấp hành bản án kết tội do hết thời hiệu


 

Theo PLHS Việt Nam, quyền thi hành bản án hình sự (BAHS) của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án hình sự) đối với người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm không phải là vô thời hạn, mà chỉ trong một thời hạn nhất định được ghi nhận trong PLHS. Nhưng khi một thời hạn nhất định do PLHS quy định đã qua rồi, thì người phạm tội mặc dù đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm vẫn không bị buộc phải chấp hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật. 

(ảnh minh họa)

 

     Căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự (TTHS) tương ứng cụ thể, việc không thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật do hết thời hiệu chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền nhất định (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan thi hành án hình sự) khi có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện do PLHS quy định.

     Bằng quy định của khoản 1 Điều 55 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) thời hiệu thi hành bản án hình sự “là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên”. Đây chính là một điểm mới trong BLHS năm 1999 (mà trước đây trong BLHS năm 1985 không có). Chế định này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong hoạt động tư pháp hình sự nói chung ở nước ta hiện nay.

     Thời hiệu thi hành BAHS chỉ được áp dụng đối với những bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành vì nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người bị kết án (ví dụ: do thiên tai, hồ sơ bị mất hoặc thất lạc, do sự thiếu trách nhiệm của những cán bộ trong các cơ quan thi hành án hình sự v.v…). Như vậy, thời hiệu thi hành BAHS khác với thời hiệu truy cứu TNHS là ở chỗ: thời hiệu thi hành BAHS căn cứ vào loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) và mức hình phạt (ba năm tù trở xuống, ba năm tù đến mười lăm năm tù, mười lăm năm tù đến ba mươi năm tù), còn thời hiệu truy cứu TNHS thì lại căn cứ vào loại tội phạm tương ứng được phân loại trong BLHS năm 1999 (khoản 3 Điều 8).

 

1. Thời hiệu thi hành bản án hình sự

Theo khoản 2 điều 55 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định như sau:

- Năm năm đối với những trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống.

- Mười năm đối với những tường hợp phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm.

- Mười lăm năm đối với những trường hợp phạt tù từ trên mười lăm năm đến ba mười năm.

     Có thể thấy, bằng các quy định của khoản 2 Điều 55 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), PLHS Việt Nam hiện hành đã điều chỉnh cụ thể ba thời hạn thi hành BAHS khác nhau tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt mà các cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền chỉ có thể và phải căn cứ vào đó để thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án. Nói một cách khác, theo quy định của BLHS năm 1999, khi đã hết các thời hạn do luật định tại khoản 2 Điều 55 tương ứng với các loại hình phạt (phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) và mức hình phạt (ba năm tù trở xuống, ba năm tù đến mười lăm năm tù, trên mười lăm năm tù đến ba mươi năm tù), thì không được thi hành BAHS đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án. Trong trường hợp có nhiều bản án đối với một người thì phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án và căn cứ để tính thời hiệu là hình phạt tổng hợp chung. Nếu trong bản án có nhiều người bị kết án, thì mỗi người sẽ được áp dụng thời hiệu thi hành BAHS phù hợp với loại hình phạt và mức hình phạt đối với họ.

     Bằng các quy phạm của khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam lần đầu tiên đã cụ thể hóa cách tính thời hiệu thi hành BAHS (khác với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 trước đây là “thời hiệu không thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án”). Tuy nhiên, khi áp dụng cách tính thời hiệu thi hành BAHS theo quy định tại đoạn 1 khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, cần chú một số vấn đề sau: 

- Thời điểm thi hành BAHS đối với người bị kết án bắt đầu được tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật (bao gồm: những BAHS của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; những BAHS của Tòa án cấp phúc thẩm và những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm), chứ không phải từ thời điểm người đó có BAHS (bản án sơ thẩm) hoặc từ thời điểm BAHS có hiệu lực thi hành (bản án có hiệu lực pháp luật kèm theo các điều kiện khác phát sinh sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Đối với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

- Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì căn cứ mức hình phạt để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự là hình phạt chung của hình phạt chính nặng nhất.

- Trường hợp trong bản án có nhiều người bị kết án thì căn cứ vào mức hình phạt đối với từng người cụ thể để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với họ.

- Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, thì căn cứ vào mức hình phạt trong mỗi bản án cụ thể để tính thời hiệu thi hành mỗi bản án hình sự cụ thể đó mà không phải căn cứ vào mức tổng hợp hình phạt chung.

- Trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù và khi hết thời hạn hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù mà Chánh án Tòa án đã cho hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù không ra quyết định thi hành án phạt tù theo quy định tại khoản 2 Điều 261 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) hoặc quyết định thi hành án phạt tù đối với phần hình phạt tù còn lại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 262 của BLTTHS hoặc có ra quyết định thi hành án phạt tù, nhưng người bị kết án không trốn tránh, thì cũng được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính kể từ ngày hết thời hạn hoãn (tạm đình chỉ) chấp hành hình phạt tù và căn cứ vào mức hình phạt tù còn lại mà người bị kết án chưa chấp hành.

- Việc tính lại thời hiệu đã qua đối với tất cả ba thời hạn (tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt được nêu tại khoản 2 Điều 55 BLHS năm 1999) có nghĩa là: nếu người bị kết án trong một thời hạn nhất định đã qua lại phạm tội mới (không kể là họ có bị phạt tù hay không), thì thời gian đã qua không được tính vào thời hiệu thi hành BAHS mà sẽ được tính lại kề từ ngày người đó phạm tội mới (cần lưu ý là trong BLHS năm 1985 trước đây còn quy định thêm ngoài việc người bị kết án đó phạm tội mới thì họ còn phải bị xét xử và bị áp dụng hình phạt tù).

Bằng các quy phạm của đoạn 2 khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999, PLHS Việt Nam đã quy định việc tính lại thời hiệu đã qua (và việc tính lại này áp dụng kể từ thời điểm người bị kết án ra trình diện hoặc bị bắt giữ) đối với tất cả ba thời hạn (tương ứng với loại hình phạt và mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều luật đang bình luận), nếu người bị kết án trong thời hạn đã qua đã cố tình trốn tránh (ví dụ: đã trực tiếp tham dự phiên tòa xét xử, nhận được bản sao BAHS nhưng không chịu chấp hành mà trốn khỏi nơi ở hoặc trốn ra nước ngoài; thay đổi họ tên, địa chỉ; làm các phẫu thuật để thay đổi hình dạng cho khác với hình dáng ban đầu…) và cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền đã ra lệnh truy nã người đó. Có nghĩa là, ở đây việc đã có lệnh truy nã phải là điều kiện bắt buộc – nếu người bị kết án mặc dù đã cố tình trốn tránh, nhưng đã không có hoặc chưa có lệnh truy nã của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, thì thời gian mà người đó đã cố tình trốn tránh (bỏ trốn) vẫn được tính vào thời hiệu để không thi hành BAHS đối với người bị kết án. 

2. Các trường hợp không áp dụng thời hiệu thi hành bản án hình sự

Theo khoản 2 Điều 46 Bộ Luật Hình sự:

- Những người bị kết án về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì bị phạt tù từ 15 năm trở xuống và những người bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm không kể về tội gì, nếu có lý do đặc biệt thì theo kết luận của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao có thể quyết định không áp dụng thời hiệu.

- Lý do đặc biệt có thể là người bị kết án thuộc loại rất nguy hiểm cho an ninh chính trị hoặc trật tự xã hội (như những tên chủ mưu, cầm đầu tổ chức phản cách mạng, những tên có nhiều tội ác, những tên lưu manh chuyên nghiệp...) mà vẫn còn có thái độ chống đối

 

Trân trọng!

 

 



Lưu ý: Những thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu luôn cập nhật và thay đổi nên có thể hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng khi đọc bài viết mà không để ý hiệu lực của điều luật thì có thể dẫn tới sai sót nếu áp dụng ngay vào thực tiễn.

Để chắc chắn và cẩn trọng nhất, khách hàng có thể Liên hệ để được tư vấn chính xác nhất về nội dung này.

Luat Hieu Gia

VPGD HIEU GIA LAW

Văn phòng tại Hà Nội: Số 2/115, Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội

Văn phòng tại Quảng Ninh: Số 46 Nguyễn Văn Cừ, Hồng Hà, TP Hạ Long, Quảng Ninh

Hotline: 0979.645.567 -  093.324.3003

Email: luathieugia@gmail.com     

Website: Luathieugia.com

LUẬT HIẾU GIA

 

 - Tư vấn mọi vấn đề liên quan để khách hàng có  lựa chọn tối ưu nhất cho vụ, việc trên;

 - Soạn hồ sơ cho khách hàng;

 - Đại diện đến cơ quan nhà nước làm thủ tục nộp      hồ sơ, theo dõi tình trạng hồ sơ, nhận kết quả;

 - Bàn giao giấy tờ (kết quả) cho khách hàng;

 - Chuyển hồ sơ lưu cho khách hàng

 

Luat Hieu Gia



Chia sẻ bài viết


facebook.png twitter.png google-plus.png

Tìm kiếm

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24h/7):

Gọi: 0979.645.567

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN LUẬT ONLINE (24h/7)

Gọi: 093.324.3003

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT












Dịch vụ nổi bật