Hợp đồng dân sự bị tuyên vô hiệu khi nào?


 

Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.

Hợp đồng dân sự được giao kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Tuy nhiên trên thực tiễn việc hợp đồng dân sự không có hiệu lực xảy ra rất nhiều và hậu quả khắc phục rất nan giải nên ngay từ khi giao kết hợp đồng mỗi cá nhân phải chú ý đến tính pháp lý của hợp đồng.

 

Các trường hợp vô hiệu của hợp đồng dân sự

 

I. Căn cứ pháp lý của việc hợp đồng dân sự vô hiệu

 

II. Những trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu

1. Hợp đồng dân sự vô hiêu khi nội dung có vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội

Cụ thể theo quy định của Điều 128 bộ luật dân sự

- Khi ký kết hợp đồng cần xem xét kỹ nội dung, công việc thực hiện, đối tượng hợp đồng… có bị pháp luật cấm hay không, điều cấm của pháp luật được hiểu là điều mà pháp luật không cho phép chủ thể đó thực hiện.
- Ví dụ điển hình như: Việc các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng không có chức năng sử dụng ngoại tệ nhưng vẫn thanh toán bằng ngoại tệ hoặc thỏa thuận với nhau về giá trị hợp đồng bằng ngoại tệ
+ Như: hợp đồng thuê nhà,...
+ Đối với trường hợp này hiện cũng tồn tại nhiều quan điểm trái chiều nhau về việc tuyên vô hiệu:
(i) Khi hợp đồng có điều khoản này thì sẽ bị tuyên vô hiệu toàn bộ vì đã phạm vào điều cấm của pháp luật;
(ii) Khi vi phạm điều khoản này thì hợp đồng chỉ bị tuyên vô hiệu một phần, phần giá cả ( giá trị) của hợp đồng mà thôi, những điều khoản khác nếu không vi phạm thì vẫn có hiệu lực. Quan điểm của tác giả trùng với quan điểm thứ
(ii) vì cho rằng các bên chỉ vi phạm 1 điều khoản không bắt buộc trong hợp đồng nên không thể dẫn đến vô hiệu toàn bộ hợp đồng mà chỉ bị tuyên vô hiệu phần vi phạm mà thôi.
 

2. Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo

Cụ thể theo quy định của Điều 129 Bộ luật dân sự

- Việc các bên xác lập một hợp đồng để nhằm che dấu một hợp đồng khác hoặc thực hiện hợp đồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba thì hợp đồng đó vô hiệu.
- Trường hợp này hiện nay đang rất phổ biến, đặc biệt là đối với những hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà, hợp đồng mua bán xe, hợp đồng thuê nhà ở…
- Đây  thường là những hợp đồng mà pháp luật quy định về hình thức phải là hợp đồng bằng văn bản có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, vì thế với tâm lý để giảm  tiền thuế, phí… thì các bên thường lập hai hợp đồng song song, trong trường hợp này rất nhiều khả năng cả hai hợp đồng đều bị tuyên vô hiệu khi xảy ra tranh chấp.
(i) hợp đồng có công chứng chứng thực, mặc dù tuân thủ về mặt hình thức nhưng lại thực hiện nhằm che dấu hợp đồng khác;
(ii) Hợp đồng bị che dấu, về lí luận thì hợp đồng này có thể có hiệu lực, tuy nhiên nếu trong trường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng có công chứng, chứng thực thì hợp  đồng này có thể bị tuyên vô hiệu.

 

3. Hợp đồng dân sự vô hiệu do chủ thể không đủ năng lực hành vi dân sự

Cụ thể theo quy định của Điều 130 Bộ luật dân sự

- Hợp đồng dân sự chỉ có hiệu lực khi các bên tham gia giao kết có đầy đủ năng lực chủ thể để tham gia thực hiện ký kết hợp đồng đó.
- Đối với cá nhân thông thường là những người đủ 18 tuổi (không bị mất năng lực hành vi dân sự) thì được tự mình tham gia vào các hợp đồng dân sự, còn những trường hợp cá nhân không có năng lực hành vi, mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi và có năng lực hành vi dân sự một phần thì chỉ được thực hiện trong một số trường hợp pháp luật cho phép hoặc thông qua người giám hộ.
- Đối với tổ chức thì điều quan trọng là người thực hiện ký kết phải có thẩm quyền tham gia ký kết…
- Đối với doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật là người có thẩm quyền tham gia ký kết, trong trường hợp người không phải là người đại diện thì phải có giấy ủy quyền của người có thẩm quyền. Tư cách chủ thể phải là doanh nghiệp, còn nếu là chi nhánh, xí nghiệp, đơn vị… đứng ra ký kết thì không thỏa mãn yêu cầu về mặt chủ thể, ( chỉ trừ trường hợp trong doanh nghiệp đó có quy định về việc ủy quyền thường xuyên).

 

4. Hợp đồng dân sự vô hiệu do Vi phạm hình thức

Cụ thể theo quy định của Điều 134 Bộ luật dân sự 

- Hợp đồng dân sự có thể được xác lập dưới các hình thức:
+ Bằng lời nói;
- Bằng văn bản;
- Văn bản có công chứng, chứng thực, bằng hành vi cụ thể.
- Trong trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định thì các bên phải tuân theo hình thức đó, nếu không tuân theo thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu khi xảy ra tranh chấp.
+ Đối với trường hợp này thì Tòa án sẽ cho các bên 30 ngày để hoàn thiện về mặt hình thức,
+ Sau thời hạn ấn định mà các bên vẫn không hoàn thiện thì Tòa án sẽ tuyên vô hiệu.
+ Vì vậy khi ký kết hợp đồng cần phải xem xét những trường hợp pháp luật quy định cụ thể về hình thức hợp đồng và yêu cầu khách hàng thực hiện đúng theo hình thức đó, để tránh bị tuyên vô hiệu.
 
Những trường hợp vô hiệu khác được quy định tại các Điều 131, 132, 133 BLDS, do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, do người người xác lập không làm chủ được hành vi của mình. Trong phạm vi bài viết này tác giả không đi sâu phân tích những trường hợp này.
Ngoài các trường hợp nêu trên thì hợp đồng dân sự cũng có thể bị tuyên vô hiệu khi đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được ngay sau khi ký hợp đồng vì lý do khách quan ( Điều 411 BLDS).
 

* Những bất cập trong việc tuyên hợp đồng dân sự vô hiệu

Theo quy định tại Điều 136 BLDS thì thời hiệu tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp vi phạm về hình thức là 02 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng, điều đó có nghĩa là sau 02 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng mà mới xảy ra tranh chấp thì các bên không có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng. Vấn đề đặt ra thì nếu như sau 02 năm các bên lại phát sinh tranh chấp và đưa vụ án đến Tòa án thì trường hợp này Tòa án có dựa vào quy định trên để tuyên vô hiệu hợp đồng hay không? Đây là một vấn đề tác giả vẫn chưa thể đưa ra câu trả lời, mặc dù trên thực tế thì tác giả đã biết được nhiều trường hợp tương tự như trên hợp đồng đã bị Tòa án tuyên vô hiệu do vi phạm về hình thức.

 

Trân trọng!

 
 


Lưu ý: Những thông tin pháp lý đăng tải được trả lời bởi các luật sư, chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên các thông tin, trích dẫn chỉ mang tính chất tham khảo do các văn bản pháp luật dẫn chiếu luôn cập nhật và thay đổi nên có thể hết hiệu lực hoặc được thay thế tại thời điểm hiện tại. Khách hàng khi đọc bài viết mà không để ý hiệu lực của điều luật thì có thể dẫn tới sai sót nếu áp dụng ngay vào thực tiễn.

Để chắc chắn và cẩn trọng nhất, khách hàng có thể Liên hệ để được tư vấn chính xác nhất về nội dung này.

Luat Hieu Gia

VPGD HIEU GIA LAW

Văn phòng tại Hà Nội: Số 2/115, Nguyễn Khang, Cầu Giấy, Hà Nội

Văn phòng tại Quảng Ninh: Số 46 Nguyễn Văn Cừ, Hồng Hà, TP Hạ Long, Quảng Ninh

Hotline: 0979.645.567 -  093.324.3003

Email: luathieugia@gmail.com     

Website: Luathieugia.com

LUẬT HIẾU GIA

 

 - Tư vấn mọi vấn đề liên quan để khách hàng có  lựa chọn tối ưu nhất cho vụ, việc trên;

 - Soạn hồ sơ cho khách hàng;

 - Đại diện đến cơ quan nhà nước làm thủ tục nộp      hồ sơ, theo dõi tình trạng hồ sơ, nhận kết quả;

 - Bàn giao giấy tờ (kết quả) cho khách hàng;

 - Chuyển hồ sơ lưu cho khách hàng

 

Luat Hieu Gia



Chia sẻ bài viết


facebook.png twitter.png google-plus.png

Tìm kiếm

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24h/7):

Gọi: 0979.645.567

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT
TƯ VẤN LUẬT ONLINE (24h/7)

Gọi: 093.324.3003

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT












Dịch vụ nổi bật